Ngày 12/6, thông tin từ Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên (Đắk Lắk) cho biết, các đội ngũ y bác sĩ đang tích cực theo dõi, điều trị cho 2 bệnh nhân nhi (1 bé sinh năm 2005 và 1 bé sinh năm 2008) mắc bệnh bạch hầu được chuyển đến từ Đắk Nông.

Hiện tại, 2 bệnh nhi đã được cách ly điều trị theo đúng phác đồ quy định. Người nhà bệnh nhân và y bác sĩ, nhân viên bệnh viện tham gia thăm khám, điều trị cho 2 bệnh nhân trên uống thuốc dự phòng để phòng chống lây chéo bệnh bạch hầu.

Trước đó, vào tháng 10 năm ngoái, một số địa phương của 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi xuất hiện một số ca mắc bệnh bạch hầu, trong đó có cả ca tử vong. Trước diễn biến phức tạp của bệnh, tại thời điểm đó, ngành y tế của các tỉnh này đang tăng cường các giải pháp để bệnh không lây lan ra cộng đồng.

Bệnh bạch hầu ít gặp trong những năm gần đây nên việc xuất hiện trở lại của các ca bệnh là điều nhắc nhở bất kì ai cũng cần cẩn trọng phòng bệnh.

2 bé ở Đắk Nông mắc bệnh bạch hầu: Những điều cần biết về bệnh nhiễm trùng dễ dàng qua đường hô hấp này để phòng bệnh tốt nhất - Ảnh 1

Bệnh bạch hầu là gì?

Bệnh bạch hầu (tiếng Anh: diphtheria) là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi. Bệnh có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục. Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu là do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu – tên khoa học là Corynebacterium diphtheria – gây ra.

Theo Cục Y tế dự phòng - Bộ Y tế, bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc cấp tính do vi khuẩn bạch hầu gây nên (Corynebacterium diphtheria).

Vi khuẩn tiết ra ngoại độc tố gây tổn thương nhiều tổ chức và cơ quan của cơ thể; bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ, tuy nhiên cũng có thể gặp ở người lớn nếu không có miễn dịch.

Những đối tượng dễ bị bệnh bạch hầu

Bệnh bạch hầu thường xuất hiện trong những tháng lạnh ở vùng ôn đới. Bệnh có tính mùa, thường tản phát, có thể phát triển thành dịch. Những người có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu bao gồm:

- Tất cả trẻ em và người lớn không được tiêm vắc-xin phòng bệnh bạch hầu hoặc tiêm chủng không đầy đủ. Đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi và người già yếu trên 60 tuổi là những đối tượng nguy cơ cao của bệnh vì khả năng miễn dịch kém.

- Những người sống trong điều kiện đông đúc, vệ sinh kém.

- Các đối tượng di chuyển, đi lại, lưu trú tại vùng có dịch hoặc bệnh bạch hầu lưu hành.

Các triệu chứng bệnh bạch hầu

Tùy thuộc vào vị trí vi khuẩn gây bệnh, bệnh bạch hầu sẽ có các biểu hiện khác nhau:

2 bé ở Đắk Nông mắc bệnh bạch hầu: Những điều cần biết về bệnh nhiễm trùng dễ dàng qua đường hô hấp này để phòng bệnh tốt nhất - Ảnh 2

- Vi khuẩn gây bệnh ở mũi trước: Bệnh nhân có triệu chứng:

Sổ mũi, chảy mũi ra chất mủ nhầy đôi khi có lẫn máu.

Khi khám thầy thuốc có thể thấy màng trắng ở vách ngăn mũi.

Thể bệnh này thường nhẹ do độc tố vi khuẩn ít thâm nhập vào máu.

- Vi khuẩn gây bệnh ở hầu họng và amidan: Bệnh nhân có triệu chứng:

Mệt mỏi, đau cổ họng, chán ăn, sốt nhẹ.

Sau 2-3 ngày, sẽ xuất hiện một đám hoại tử tạo thành lớp giả mạc màu trắng xanh, dai và dính chắc vào amiđan, hoặc có thể lan rộng bao phủ cả vùng hầu họng.

Thường thể bệnh này các độc tố ngấm vào máu nhiều và có thể gây tình trạng nhiễm độc toàn thân.

Một số bệnh nhân có thể sưng nề vùng dưới hàm và sưng các hạch vùng cổ làm cổ bạnh ra như cổ bò.

Những trường hợp nhiễm độc nặng bệnh nhân sẽ phờ phạc, xanh tái, mạch nhanh, đờ đẫn, hôn mê.

Các bệnh nhân này nếu không được điều trị tích cực có thể tử vong trong vòng 6-10 ngày.

- Vi khuẩn gây bệnh ở thanh quản: Đây là thể bệnh tiến triển nhanh và rất nguy hiểm. Bệnh nhân thường biểu hiện:

Sốt, khàn giọng, ho ông ổng.

Khi khám, bác sĩ có thể thấy các giả mạc tại ngay thanh quản hoặc từ hầu họng lan xuống. Nếu không được xử trí kịp thời, các giả mạc này có thể gây tắc đường thở làm bệnh nhân suy hô hấp và có nguy cơ tử vong nhanh chóng.

- Vi khuẩn gây bệnh ở các vị trí khác: Thường rất hiếm gặp và nhẹ, vi khuẩn bạch hầu có thể gây loét ở da, niêm mạc như niêm mạc mắt, âm đạo hay ống tai.

Người mắc bệnh bạch hầu thường có tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Độc tố bạch hầu gây liệt cơ, viêm cơ tim, dẫn đến tử vong trong vòng 6 ngày. Tỷ lệ tử vong khoảng 5-10%.

Biến chứng của bệnh bạch hầu nguy hiểm thế nào?

2 bé ở Đắk Nông mắc bệnh bạch hầu: Những điều cần biết về bệnh nhiễm trùng dễ dàng qua đường hô hấp này để phòng bệnh tốt nhất - Ảnh 3

Bệnh nhân mắc bạch hầu sau khi khỏi bệnh sẽ không bị mắc lại vì cơ thể được miễn dịch lâu dài.

Bệnh bạch hầu lây truyền qua đường nào?

Bệnh lây truyền dễ dàng qua đường hô hấp hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết từ niêm mạc mũi họng của bệnh nhân hoặc người lành mang trùng khi ho, hắt hơi, đặc biệt trong khu vực dân cư đông đúc hoặc nơi có điều kiện vệ sinh không đảm bảo.

2 bé ở Đắk Nông mắc bệnh bạch hầu: Những điều cần biết về bệnh nhiễm trùng dễ dàng qua đường hô hấp này để phòng bệnh tốt nhất - Ảnh 4

Thông thường Corynebacterium diphtheriae nhân lên trên hoặc gần bề mặt của màng nhầy của cổ họng. Corynebacterium diphtheriae lây lan qua ba con đường:

- Thông qua giọt nước trong không khí: Khi một người bị nhiễm bệnh hắt hơi hoặc ho sẽ phát ra một giọt nước có chứa mầm bệnh, những người ở gần đó có thể hít phải Corynebacterium diphtheriae. Bạch hầu lây lan nhanh chóng theo cách này, đặc biệt ở những nơi đông người.

- Thông qua vật dụng cá nhân chứa mầm bệnh: Một số trường hợp mắc bệnh bạch hầu từ việc chưa làm sạch các vật dụng mà người nhiễm bệnh đã sử dụng từ cốc uống nước chưa rửa của người bị nhiễm bệnh hoặc tiếp xúc với các giấy ăn mà người bệnh đã sử dụng...

- Dùng chung đồ gia dụng bị ô nhiễm: Một số trường hợp hiếm hơn khi bị lây nhiễm bệnh bạch hầu thông qua các vật dụng dùng chung trong gia đình, chẳng hạn như khăn hoặc đồ chơi.

Người khỏe cũng có thể tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh bạch hầu khi chạm vào vết thương bị nhiễm trùng. Những người đã bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu nhưng chưa được điều trị có thể lây nhiễm cho những người khỏe mạnh trong vòng sáu tuần - ngay cả khi họ không có bất kỳ triệu chứng nào.

Phòng ngừa bệnh bạch hầu bằng cách nào?

2 bé ở Đắk Nông mắc bệnh bạch hầu: Những điều cần biết về bệnh nhiễm trùng dễ dàng qua đường hô hấp này để phòng bệnh tốt nhất - Ảnh 5

Bệnh bạch hầu có thể phòng ngừa được bằng biện pháp tiêm phòng vắc-xin. Vắc-xin bạch hầu có trong tất cả các vắc-xin kết hợp 3 trong 1; 4 trong 1; 5 trong 1 hay 6 trong 1 cho trẻ từ 6 tuần đến 6 tuổi:

- Vắc-xin kết hợp 6 trong 1 Hexaxim hoặc Infanrix Hexa phòng 6 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan b, bại liệt và các bệnh do Hib).

- Vắc-xin kết hợp 5 trong 1 Pentaxim phòng 5 bệnh: Ho gà, bạch hầu, uốn ván, bại liệt và các bệnh do Hib) hoặc vắc-xin trong chương trình TCMR ComBE Five (Phòng 5 bệnh: Bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm màng não mủ/viêm phổi do vi khuẩn HiB và viêm gan B).

- Vắc xin kết hợp 4 trong 1 Tetraxim phòng các bệnh Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván – Bại liệt.

- Vắc xin kết hợp 3 trong 1 Adacel phòng các bệnh: Bạch hầu – Ho gà – Uốn ván.

Trẻ từ 2 tháng tuổi đã có thể tiêm phòng với 4 mũi tiêm cơ bản lúc 2-3-4 tháng tuổi và liều nhắc lại lúc 18 tháng tuổi.

Vắc xin 6 trong 1 Hexaxim, Infanrix Hexa hiện có sẵn tại các hệ thống tiêm chủng.

Vì tính chất nghiêm trọng của bệnh, hãy cho trẻ được chủng ngừa đầy đủ phác đồ!

Bên cạnh đó, để chủ động phòng chống bệnh bạch hầu, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp:

- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng.

- Che miệng khi ho hoặc hắt hơi.

- Giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hằng ngày.

- Hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.

- Môi trường nhà ở, trường lớp phải được vệ sinh sạch sẽ, đảm bảo thông thoáng và có đủ ánh sáng.

Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu, người dân phải nhanh chóng đến khám tại các cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Phải được cách ly và điều trị. Trường hợp tại ổ dịch bạch hầu, người dân cần chấp hành nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vắc-xin phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.

Trẻ chậm nói, khó phát âm, nói ngọng, chỉ nói được vài từ đơn giản: Nguyên nhân có thể do mắc dị tật này

Trẻ chậm nói, khó phát âm, nói ngọng, chỉ nói được vài từ đơn giản: Nguyên nhân có thể do mắc dị tật này

Đây là nguyên nhân mà ít người biết đến, làm hạn chế cử động bình thường của lưỡi và ảnh hưởng đến sự phát âm của trẻ.

Theo HN/ Tổ Quốc