Đột tử ở trẻ dưới 1 tuổi - Phòng tránh từ yếu tố nguy cơ

03/06/2018 05:30

Có rất nhiều trường hợp trẻ em, buổi tối trước đó vẫn bình thường, nhưng sau đó được phát hiện là đã tử vong mà không rõ một nguyên nhân nào.

Vấn đề này gây rất nhiều hệ lụy không chỉ về mặt tính mạng của trẻ mà còn dẫn đến những căng thẳng, nghi ngờ, hiểu lầm, bức xúc trong gia đình, giữa gia đình với những người làm công tác chuyên môn y tế, và với xã hội...

Chết trong nôi khi ngủ

Đột tử ở trẻ em hay còn gọi là hội chứng SIDS (Sudden infant death syndrome) được định nghĩa là những trường hợp đột tử xảy ra ở trẻ dưới một tuổi, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, mà không tìm được bất kỳ nguyên nhân nào về tiền sử bệnh tật, hiện trường tử vong và cả khi mổ tử thi. Bởi vì phần lớn các trường hợp tử vong xảy ra trong khi ngủ, nên hội chứng này còn được gọi là chết trong nôi khi ngủ (cot - death hay crib - death). Như vậy, tất cả các trường hợp trẻ đột tử tìm được nguyên nhân rõ ràng đều không được chẩn đoán là SIDS.

Theo thống kê, SIDS là nguyên nhân đứng hàng thứ 3 gây tử vong ở trẻ dưới một tuổi.

 

Đột tử ở trẻ dưới 1 tuổi - Phòng tránh từ yếu tố nguy cơ ảnh 1
Trẻ còn quá nhỏ ngủ với thú nhồi bông không đúng cách, gây ngạt đường thở dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.

Nguy cơ nào?

Nguyên nhân của SIDS thì chưa được rõ, nhưng có một số yếu tố nguy cơ được cho là có khả năng làm tăng đột tử ở trẻ em. Trước hết là các yếu tố nguy cơ ở người mẹ như mẹ có thai ở tuổi vị thành niên; người mẹ không được chăm sóc, theo dõi thai sản chu đáo; người mẹ có tiền sử hút thuốc lá (người ta nhận thấy số trẻ em đột tử tăng cao ở nhóm các bà mẹ hút thuốc lá trong giai đoạn có thai).

Các nguyên nhân sau sinh bao gồm nấm phổi, mà nhiều khi bị chẩn đoán nhầm là viêm phế quản do vi khuẩn hoặc virut hay hen phế quản; trẻ thiếu cân khi sinh. Trẻ sơ sinh non tháng cũng là một yếu tố nguy cơ với tần suất gặp SIDS vào khoảng 2,39/1000 trẻ. Một số yếu tố khác cũng được cho là có thể liên quan đến việc đột tử ở trẻ như tiếp xúc với khói thuốc (ở gia  đình có người hút thuốc); nằm úp sấp khi ngủ, không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ; nhiệt độ phòng tăng hoặc giảm đột ngột; giường, chăn đệm, thú nhồi bông gây chật chội, ngột ngạt; có tình trạng thiếu máu; giai đoạn 6 tháng đầu sau sinh và trẻ nam thì có nguy cơ cao hơn và đặc biệt là người ta cũng nhận thấy một tỷ lệ bị SIDS cao hơn ở nhóm trẻ ngủ cùng cha mẹ hoặc ngủ với các trẻ khác mà chưa lý giải được nguyên nhân.

Các giả thiết…

Để đi tìm câu trả lời cho SIDS, một số nguyên nhân đã được đưa ra. Năm 2008, các nhà khoa học Anh đã cho là nhiễm khuẩn do S. aureus và E. coli có thể là nguyên nhân khi tìm thấy hai vi khuẩn này trong một số trường hợp đột tử ở trẻ em trong giai đoạn từ 8 - 10 tuần tuổi, là lứa tuổi mà kháng thể từ mẹ truyền cho đã giảm trong khi khả năng sinh kháng thể của trẻ còn yếu. Các thương tổn não bộ ở vùng thân não cũng được tìm thấy ở một số trẻ đột tử và được cho là do tư thế nằm chân cao, đầu thấp (tư thế Trendelenburg). Năm 2010, một nghiên cứu tại Mỹ đã cho thấy nồng độ Interleukin-2 (IL-2), một chất điều hòa thần kinh, tăng cao trong não trẻ đột tử và IL-2 được cho là nguyên nhân gây rối loạn hô hấp, tim mạch và làm giảm hoặc mất sự thức tỉnh ở trẻ. Nồng độ Interleukin-6 cũng gia tăng ở dịch não tủy một số trẻ bị SIDS và điều này có thể làm thay đổi nồng độ serotonin, một chất có liên quan đến việc cảm thụ với mức độ tăng giảm nồng độ CO2 máu. Các nhà khoa học cũng đang tiến hành nghiên cứu về vấn đề trục trặc trong việc dẫn truyền các tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương dẫn đến những cơn ngừng thở ở trẻ giống hội chứng ngừng thở khi ngủ (sleep apnea) ở người lớn. Tổn thương các đốt sống cổ và thân não trong quá trình sinh đẻ cũng là một nguyên nhân gây khó thở và đột tử ở trẻ. Nếu trẻ bị các thương tổn này thường khó thở khi nằm sấp và dễ thở hơn khi nằm nghiêng. Các giả thiết về gene cũng được đặt ra khi có tới 2/3 số trẻ tử vong do SIDS là trẻ nam. Người ta đặt giả thiết rằng  có thể có mối liên quan giữa các rối loạn hô hấp, tuần hoàn với nhiễm sắc thể X và rối loạn hay xảy ra ở trẻ nam do nhiễm sắc thể Y tương ứng không có gene tương ứng trội hơn để kiểm soát. Hệ thống tiền đình thuộc tai trong có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nhịp thở khi ngủ và rối loạn nhịp thở có thể xảy ra ở trẻ bị tổn thương tai trong ở những sản phụ có cơn co tử cung kéo dài trong quá trình chuyển dạ. Hội chứng QT kéo dài, thiếu hụt acid béo beta-oxidation cũng có thể là nguyên nhân của SIDS. Một số các nguyên nhân khác có thể gây ra SIDS như NO2; các chất độc và khí độc trong chăn chiếu sản xuất không đảm bảo chất lượng; tiêm vắc-xin; vitamin C và thậm chí có nguyên nhân cố ý làm trẻ tử vong cũng đang được tìm hiểu.

Phòng tránh từ các yếu tố nguy cơ

Như đã đề cập ở trên, hội chứng đột tử ở trẻ em - SIDS có nguyên nhân chưa được rõ nên việc dự phòng chủ yếu là loại bỏ các yếu tố nguy cơ như: nên cho trẻ nằm đầu cao; giữ cho phòng thoáng mát, thông khí bằng quạt gió; không nên trùm chăn kín đầu trẻ; đảm bảo đủ dinh dưỡng cho trẻ, tốt nhất là bằng sữa mẹ. Đặc biệt chú ý chăm sóc các trẻ sơ sinh thiếu cân, non tháng; trẻ có mẹ ở tuổi vị thành niên, mẹ nghiện rượu, nghiện thuốc lá hoặc lạm dụng các chất ma túy khác; trẻ ở gia đình có người mắc các hội chứng gây rối loạn nhịp tim bẩm sinh... Và cuối cùng, tất cả các trẻ em phải được chăm sóc, theo dõi chu đáo, kịp thời phát hiện các bất thường ở trẻ để có thể đưa đến khám và điều trị bởi các thầy thuốc chuyên khoa.

Bỏ ngay 4 thói quen của trẻ sơ sinh khiến con lớn lên "kém xinh"
Những thói quen này khá nhiều trẻ mắc phải nhưng cha mẹ hoàn toàn không để ý.
XEM TIẾP
Sắm đồ dùng cho trẻ sơ sinh mùa hè mẹ cần những gì?
Nếu em bé nhà bạn sinh vào mùa hè, bạn cần chuẩn bị một số đồ dùng cho trẻ sơ sinh đặc biệt để phù...
XEM TIẾP
Mách mẹ cách xử trí khi trẻ sơ sinh bị đi ngoài
Đi ngoài kéo dài có thể khiến bé mất nước ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Vì vậy mẹ cần phải nắm vững các...
XEM TIẾP
Ngày: 24/06/2018
Đơn vị: VNĐ
Mặt hàngGiáTỉnh/TP
 Lưỡi heo (kg)  110.000  
 Cá Diêu hồng (kg)  60.000  
 Cá kèo (kg)  110.000 
 Bông cải xanh (kg)  30.000  
Rau muống (kg)15.000 
Bắp cải (kg) 18.000 
Bí xanh (kg) 15.000 
Thịt đùi heo (kg) 100.000 
Sườn non (kg) 120.000 
Cá trứng đông lạnh gói 500g (gói)50.500 
Cá viên gói 500g (gói) 50.700 
Nem Huế cây 500g (cây) 58.900 
Chả lụa gói 500g (gói) 66.900 
Chanh không hạt (kg) 16.500 
Cam sành loại nhỏ (kg)18.900 
Dưa lưới (kg) 35.500 
Cải thảo (kg) 12.000 
Xà lách búp (kg) 20.000 
Cải bắp tròn (kg) 8.000 
Cải ngọt (kg)8.000 
Cải bẹ xanh (kg) 8.000 
Rau muống nước (kg) 8.000 
Cải thìa (kg) 20.000 
Rau quế (kg)20.000 
Bầu (kg) 15.000 
Su su (kg) 10.000 
Khoai lang bí (kg) 14.000 
Cà chua (kg) 20.000 
Cà rốt (kg)20.000 
 Bông cải xanh (kg)  53.000