SGK điện tử: Cần nghiên cứu kỹ đề án nghìn tỉ

Sau khi Sở GD-ĐT TP. HCM tổ chức Hội thảo giới thiệu Đề án “Sách giáo khoa điện tử và máy tính bảng cho học sinh tiểu học lớp 1, 2, 3”, nhiều câu hỏi được các bậc phụ huynh, chuyên gia tâm lý giáo dục đặt ra: trẻ ở độ tuổi này đã nên sử dụng máy tính bảng hay chưa, chi phí đầu tư cho đề án đã phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam?

Khi trẻ em lệ thuộc vào máy móc khi còn quá nhỏ

Theo đề án mà Sở GD-ĐT TP.HCM đưa ra ngày 18-8, sẽ có 60% học sinh lớp 1, 2, 3 tại TP. HCM học với máy tính bảng cá nhân đã tích hợp chương trình SGK, sử dụng trong phòng học được trang bị các thiết bị tương tác hiện đại khác. Giáo viên sẽ quản lý máy tính bảng của học sinh thông qua các phần mềm tương tác, qua đó thấy được thao tác, phần bài tập của từng em.

Hội thảo lấy ý kiến các hiệu trưởng tiểu học trên địa bàn TP.HCM. (Ảnh: Sở GD-ĐT TP.HCM)

Việc sử dụng SGK điện tử nhằm làm giảm chi phí ấn hành, xuất bản, giảm mang vác cho trẻ nhỏ, đồng thời mang lại nhiều tiện ích trong học tập như các nguồn tài nguyên trên mạng, khả năng tương tác, nắm bắt hình ảnh tại chỗ...

Tuy nhiên, để lứa tuổi đầu cấp tiểu học sử dụng máy tính bảng xuyên suốt quá trình học tập lại là điều khiến các bậc phụ huynh cũng như chuyên gia về tâm lý, giáo dục lo lắng.

Anh Phạm Khánh Hảo (Quận Bình Thạnh) cho rằng: "Đây là một đề án không khả thi, do đề án chưa đánh giá được những ảnh hưởng đến sức khỏe của đối tượng thí điểm học sinh cấp tiểu học. Thị lực của các cháu sẽ bị ảnh hưởng khi dành quá nhiều thời gian cho việc sử dụng máy tính bảng". 

Anh Hảo cũng lo ngại: "Đề án sẽ tạo nên gánh nặng thật sự cho các gia đình có con em ở lứa tuổi tiểu học, bởi các cháu chưa đủ khéo léo, cẩn thận để giữ gìn, bảo quản máy và có thể rơi vỡ bất cứ lúc nào... vì thế cha mẹ sẽ tốn tiền mua máy mới. Và đồng thời, sẽ nảy sinh tiêu cực trong việc mua máy đúng chuẩn".

Thạc sĩ Văn Hiến, giảng viên khoa Tâm lý, ĐH Sư phạm TP.HCM, cho rằng: "Phải có nghiên cứu để thấy được bằng chứng về hiệu quả của việc sử dụng máy tính bảng ở học sinh tiểu học đối với việc học. Nhưng trên hết, cần có đánh giá toàn diện về những nguy cơ sẽ xảy ra khi trẻ tiếp xúc nhiều quá với máy tính bảng, không chỉ là các chứng tật về mắt".

Nhiều người lo lắng khi cho trẻ tiếp xúc nhiều với máy tính bảng.

Cùng chung ý kiến với anh Hiến, chị Nhiên (Quận 3), có con đang học tiểu học cho ý kiến: “Mua máy tính bảng cho con không ngoài khả năng kinh tế của gia đình tôi, nhưng đề án dùng máy tính bảng cho trẻ lớp 1,2,3 học là không nên. Ở nhà tôi thỉnh thoảng cho cháu dùng máy tính bảng để chơi game giải trí vì sợ cho con chơi nhiều sẽ dễ hỏng mắt. Còn việc dùng máy tính bảng dể học liên tục thì mắt của các cháu sẽ bị ảnh hưởng do tiếp xúc màn hình quá nhiều”.

Mỗi học sinh trang bị một máy tính bảng là quá sức với nhiều gia đình

Anh Nguyễn Văn Phúc (Quận Phú Nhuận) cho rằng: "Việc thực hiện đề án trang bị 320.000 máy tính bảng cho học sinh ở lứa tuổi đang phát triển tư duy và hình thành các phẩm chất là chưa hợp lý và thiết thực".

Anh Phúc giải thích: "Thứ nhất, các em nên được khuyến khích sử dụng tư duy nhằm phát triển tư duy, khả năng sáng tạo và hình thành tính kiên trì, cẩn thận ở các em hơn là nhận sự hỗ trợ từ các thiết bị hiện đại. Xã hội sau này sẽ như thế nào khi mà các em quá lệ thuộc vào máy móc từ khi còn quá nhỏ?

Thứ hai, một số lượng không nhỏ gia đình có con em đang theo học tại các trường tiểu học đang loay hoay giải bài toán học phí thì bị gắn thêm gánh nặng phí sắm sửa máy tính bảng. Gia đình khá giả thì không thành vấn đề, còn các gia đình khó khăn thì phải làm sao?

Thứ ba, các em tuổi còn nhỏ, vì thế giao cho các em một món đồ giá trị vài triệu đồng như thế sẽ gây nguy hiểm cho chính các em vì những kẻ trộm cắp sẽ rình rập để trộm cướp".

Giao cho học sinh những chiếc máy tính bảng sẽ gây nguy hiểm vì những kẻ trộm cắp.

"Tóm lại, bản thân tôi nhận thấy vượt lên trên những lợi ích mà máy tính bảng mang tới cho các em như hỗ trợ hiệu quả cho việc học Anh văn, tham khảo các tài liệu học tập và đặc biệt là giải trí, còn rất nhiều những bất cập phát sinh khi thực hiện dự án này mà quả thật chúng ta không lường trước được", anh Phúc góp ý.

Cần thêm thời gian nghiên cứu cho đề án nghìn tỉ

Từng học tại Anh, Thạc sĩ Thu Huyền, giảng viên trường Sư Phạm TP.HCM có những chia sẻ về vấn đề này như sau:

"Từ kinh nghiệm của nước Anh - một quốc gia có cả trình độ kinh tế lẫn giáo dục rất phát triển, chúng ta cũng nên cân nhắc kỹ trước khi triển khai sách giáo khoa điện tử (Classbook) trong nhà trường. Vấn đề không chỉ nằm ở giá thành gần 5 triệu đồng mà ở cách khai thác lợi ích của nó. Thêm một điều cần khuyến cáo, việc trẻ nhỏ sở hữu món đồ giá trị như vậy ở Việt Nam là khá nguy hiểm, có thể trở thành mục tiêu của người xấu.

Gần đây, nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam phát hành bộ sách giáo khoa điện tử Classbook với thiết kế và chức năng gần như máy tính bảng thông thường. Sản phẩm được tuyên truyền là mang lại nhiều lợi ích trong dạy và học cho cả thầy lẫn trò.

Thực chất, ý tưởng về một quyển sách điện tử đã xuất hiện đầu tiên vào năm 1986 bởi một tác giả tên Alan Key và trung tâm nghiên cứu của Xeror, được gọi tên là Dynabook. Dynabook được mô tả như một sự kết hợp giữa giấy, viết chì, tẩy, máy đánh chữ và nhạc cụ. Tuy nhiên, do sự hạn chế về công nghệ nói chung lúc bấy giờ nên sản phẩm chỉ dừng lại ở mức độ ý tưởng. Sau đó thì các thế hệ máy tính bảng cũng ra đời nhưng không rầm rộ cho đến khi sản phẩm iPad của Apple xuất hiện năm 2010, thì cơn sốt máy tính bảng mới thực sự ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống trong đó có giáo dục.

Tại Anh, môn ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học (ICT in Education) là môn bắt buộc trong tất cả các chương trình đào tạo giáo viên, môn khoa học máy tính (Computing) là môn bắt buộc trong nhà trường dành cho học sinh từ 5 - 16 tuổi. Vì vậy, không có gì khó hiểu khi thống kê năm 2012, có khoảng 100.000 máy tính bảng trong trường học Anh, thì đến năm 2013, con số này đã tăng lên 260.000.

Tuy nhiên, việc tiến tới thay thế hoàn toàn các sách tham khảo in bằng sách điện tử (ở Anh không có bộ sách giáo khoa chung cho học sinh cả nước, giáo viên tùy ý thiết kế nội dung bài giảng theo khung chương trình quốc gia) vẫn diễn ra hết sức thận trọng ở Anh. Cuối năm 2012 đến đầu năm 2013, 24 trường phổ thông ở UK - nơi mà cả giáo viên và học sinh đều được trang bị máy tính bảng đã tham gia vào cuộc thực nghiệm về hiệu quả của chiến lược này.

Kết quả cho thấy: Việc sử dụng máy tính bảng mang lại lợi ích cho cả học sinh lẫn giáo viên. Học sinh tích cực tham gia các hoạt động học tập, hợp tác với nhau và với giáo viên, giáo viên quản lý và trợ giúp việc học từng cá nhân học sinh tốt hơn, đặc biệt là học sinh cá biệt.

Cả giáo viên, học sinh, phụ huynh đều giao tiếp với nhau dễ dàng và thường xuyên hơn nhờ công nghệ. Vài ví dụ cụ thể như giáo viên tạo được các bài giảng, tài liệu tham khảo (mini-textbook) đa dạng dưới dạng kênh chữ, hình, âm thanh sinh động, hấp dẫn, hạn chế mang các đồ dùng dạy học (tranh ảnh in, bài in, giấy bút) lên lớp. Với các video hoặc đoạn audio cũng giúp học sinh hiểu bài dễ hơn và không gây nhàm chán khiến các em chú ý hơn trong giờ học. Học sinh có thể đặt câu hỏi, gửi bài cho giáo viên nhanh chóng qua các phần mềm, trang web. Thực nghiệm cũng cho thấy học sinh làm bài tập trên lớp hay về nhà bằng cách tương tác ngay trên máy thì tiết kiệm thời gian hơn trên giấy.

Dù nhiều lợi ích đến thế nhưng bộ Giáo dục Anh vẫn đưa ra khuyến cáo và đòi hỏi các trường có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi triển khai chiến lược này. Trước hết là nguồn tài chính để trang bị, bảo trì, thay thế thiết bị gồm máy tính bảng, các ứng dụng, phần mềm, mạng internet khi bị hư hỏng. Điều quan trọng hơn là giáo dục ý thức giáo viên lẫn học sinh cách sử dụng tối ưu thiết bị này, hạn chế cao nhất sự lạm dụng nó cho việc giải trí; phối hợp với phụ huynh cách quản lý việc sử dụng máy tính bảng của trẻ. Bên cạnh đó, nhà trường cũng phải huấn luyện giáo viên cách thiết kế bài dạy với các hoạt động đa dạng từ tiện ích của máy tính bảng mà không chỉ đơn thuần là dùng kho tài liệu có sẵn".

Theo như phân tích của Thạc sĩ Thu Huyền và nhìn vào những gì mà TP.HCM đang áp dụng thì thấy tất cả đang rất vội vàng: Chưa có nghiên cứu kỹ lưỡng; đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo,…Vì những lí do đó, thiết nghĩ UBND TP.HCM và Sở GD TP.HCM cần có thêm thời gian để nghiên cứu và tham khảo ý kiến trước khi áp dụng một đề án tốn kém nghìn tỉ.

Lê Thanh
Theo phununews
Phụ nữ và gia Fanpage

Có thể bạn quan tâm