Chùa Bồ Đề không được phép nuôi trẻ

Là khẳng định của luật sư Trương Anh Tú xung quanh việc cho và nhận con nuôi của chùa Bồ Đề.

Việc cho, nhận con nuôi lỏng lẻo tạo điều kiện cho kẻ xấu lợi dụng

Chiều 5/8, tại cuộc giao ban thường kỳ báo chí Thành ủy Hà Nội, Thượng tá Vũ Thái Hưng, Phó phòng PC45, Công an Hà Nội, đã công bố thông tin về vụ mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề như sau:

Cơ quan điều tra nhận được thư của anh Nguyễn Thành Long, ở phường Thịnh Quang, quận Đống Đa về việc sau khi đến chùa Bồ Đề nhận làm cha đỡ đầu một bé trai sinh tháng 10/2013, đang được nuôi dưỡng tại chùa Bồ Đề, đặt tên là Cù Nguyên Công.

Thượng tá Vũ Thái Hưng, Phó phòng PC45, Công an Hà Nội công bố thông tin về vụ mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề (ảnh Phunuonline)

Tuy nhiên, đến 5/1, khi anh Long tìm cháu thì không thấy cháu ở tại chùa. Sau đó anh Long làm đơn tố cáo đến cơ quan công an. Qua điều tra, cơ quan công an xác định bé Cù Nguyên Công là con của Trần Thị Thu H và Vũ Xuân T. Do không thể đi đến hôn nhân, sau khi có thai H và T đã tìm một nhà nghỉ ở quận Nam Từ Liêm làm nơi sinh cháu Công. Do sợ bị gia đình biết, họ đã mang cháu bé đến chùa Bồ Đề, quận Long Biên nhờ nuôi dưỡng.

Tại đây, sư trụ trì Thích Đàm Lan đã hướng dẫn người mẹ trẻ gặp Nguyễn Thị Thanh Trang, SN 1978, trú tại phố Mai Hắc Đế, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) là người quản lý “nhà mở” - nơi trông trẻ của chùa Bồ Đề, địa chỉ tại tổ 2, phường Bồ Đề, quận Long Biên.

Trang đã hướng dẫn mẹ cháu Công làm làm thủ tục gửi trẻ và khoảng một tuần sau, anh Nguyễn Thành Long đến chùa Bồ Đề làm từ thiện, đã nhận bé Công (lúc đó chưa được đặt tên) làm con đỡ đầu và đặt tên cháu là Cù Nguyên Công.

Sau lần đó, thỉnh thoảng anh Long vẫn sang chùa Bồ Đề thăm cháu và kể từ đầu năm 2014 đến nay thì không được gặp cháu nữa.

Tìm hiểu về vấn đề này, cơ quan điều tra nắm được cách đây một năm, một phụ nữ tên là Phạm Thị Nguyệt, SN 1979, ở phường thịnh Liệt, quận Hoàng Mai (Hà Nội) đã nhờ Nguyễn Thị Thanh Trang tìm cho một đứa trẻ khỏe mạnh để nhận làm con nuôi. Trước đó, Nguyệt đã nhận nuôi 2 đứa trẻ khác và Nguyệt hứa bồi dưỡng cho Trang tiền.

Giữa tháng 12/2013, Trang nói với mẹ bé Công là có người bà con muốn nhận cháu về làm con nuôi và nhờ người quen tên là Minh, ở phường Bồ Đề, quận Long Biên nhập vai là chị dâu của Trang để gặp mẹ bé Công nói chuyện.Sau khi chấp nhận cho đứa con trai ruột, mẹ bé Công được Trang chuyển cho 10 triệu đồng vào tài khoản. 

Sau khi mẹ bé Công đồng ý, Trang yêu cầu Nguyệt phải chi 40 triệu đồng để trả cho mẹ cháu. Nguyệt chấp thuận và chuẩn bị trước 35 triệu đồng. Ngày 2/1/2014, tại nhà mẹ đẻ Trang ở huyện Thanh Trì (Hà Nội), Nguyệt đã nhận bé Công và cùng Trang đưa cháu đi xét nghiệm HIV, rồi giao tiền cho đối tác như đã thỏa thuận. 

Sau đó, cháu Công được Nguyệt đưa về quê ở tỉnh Ninh Bình làm giấy khai sinh với tên Phạm Gia Bảo, sinh ngày 10/10/2013. Đến cuối tháng 6/2014, bé Công do bị bệnh đã được đưa vào Bệnh viện Nhi Trung ương để điều trị và đã không qua khỏi, tử vong vào ngày 27/6/2014.

Qua điều tra, cơ quan công an đã bắt khẩn cấp Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt để điều tra. Trong quá trình điều tra, lực lượng công an đã phát hiện và thu giữ nhiều giấy khai sinh của các cháu bé không phải con đẻ của Nguyệt và giấy viết tay của người khác, có dấu hiệu làm giả để hợp thức hóa nguồn gốc các cháu bé Nguyệt đang nuôi.

Trong quá trình tiếp nhận, nuôi trẻ em tại chùa Bồ Đề tương đối lỏng lẻo, các cháu vào ra không có giấy tờ mang tính chất pháp lý để quản lý. Đó là điều kiện rất thuận lợi cho những kẻ như Trang và Nguyệt lợi dụng, Thượng tá Vũ Thái Hưng kết luận.

Chùa Bồ Đề không được phép nuôi trẻ

Trao đổi về việc nuôi dạy trẻ em tại chùa Bồ Đề, Luật sư Trương Anh Tú cho rằng, chùa Bồ Đề không được phép nuôi dạy trẻ em, chỉ có những cơ sở đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định mới được phép, tiếp nhận, quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em là trẻ bị bỏ rơi.

Điều này được quy định cụ thể tại Điều 4 và Điều 5 của Nghị định số: 68/2008/NĐ-CP quy định điều kiện, thủ tục, thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội. Cụ thể: 

Điều 4. Nhiệm vụ của cơ sở bảo trợ xã hội: 1. Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này... Điều 5. Đối tượng được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, bao gồm: “...2. Các đối tượng xã hội cần sự bảo vệ khẩn cấp: Trẻ em bị bỏ rơi; nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động.

Như vậy, chùa Bồ Đề không phải là cơ sở bảo trợ xã hội, vì vậy không có thẩm quyền quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. 

Tuy chưa được cho phép nhưng chùa Bồ Đề vẫn nuôi dạy nhiều trẻ em (ảnh VOV)

Chùa Bồ Đề không được phép tham gia vào việc cho hay nhận con nuôi

Luật sư Tú cũng cho biết, việc cho nhận con nuôi tại chùa Bồ Đề là hoàn toàn không đúng quy định của pháp luật bởi lẽ muốn thực hiện cho, nhận con nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tuân thủ quy trình do pháp luật quy định và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể là:

Thứ nhất: Về điều kiện của Người nhận nuôi và người được làm con nuôi phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Luật Nuôi con nuôi.

Người được nhận làm con nuôi phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi đó là:

1. Trẻ em dưới 16 tuổi.

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi; b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng. 4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.

Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi được quy định tại Điều 18 Luật Nuôi con nuôi, cụ thể :

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có: a) Giấy khai sinh; b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng; d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự; đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

2. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng.

Người nhận con nuôi phải đáp ứng điều kiện được quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi đó là: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; Có tư cách đạo đức tốt. Điều này được thể hiện trong hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi quy định tại Điều 17 Luật Nuôi con nuôi.

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

Thứ hai: Về trình tự đăng ký việc cho và nhận con nuôi được Điều 19, 20, 21, 22 Luật Nuôi con nuôi. Cụ thể :

Sau khi người hoàn tất về hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi và ngưởi được giới thiệu làm con nuôi thì Người nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.

Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tiến hành xong việc lập ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này. Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.

 Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

Với quy định của pháp luật như trên về việc đăng ký nuôi con nuôi thì rõ ràng quy trình nhận con nuôi như vụ việc xảy ra tại chùa Bồ Đề là hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật.

Luật sư Trương Anh Tú cho rằng chùa Bồ Đề không được phép cho nhận con nuôi.

Sư Đàm Lan trụ trì chùa Bồ Đề phải nhận hình phạt nếu có tham gia vào việc cho nhận con nuôi

Về trách nhiệm của những cá nhân tham gia vào việc cho và nhận con nuôi trái pháp luật diễn ra tại chùa Bồ Đề, luật sư Tú khẳng định, trụ trì chùa Đàm Lan sẽ phải nhận hình phạt nếu có tham gia vào việc này. Với lí do, một cơ sở không có chức năng cho con nuôi theo quy định của pháp luật thực hiện hành vi cho con nuôi thì đây là hành vi cho con nuôi trái pháp luật.

Hành vi cho con nuôi trái pháp luật là hành vi bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại điểm c khoản 4 Điều 50 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, Hành chính tư pháp, Hôn nhân và gia đình, Thi hành án dân sự, Phá sản doanh nghiệp, Hợp tác xã.

Theo quy định của điều luật này thì hành vi cho con nuôi trái pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi cho con nuôi trái pháp luật. Trong quá trình xác minh, điều tra nếu tiếp tục phát hiện người cho, nhận con nuôi trái pháp luật mà lại có hành vi vi phạm pháp luật khác thì người đó sẽ bị xử lý theo điều luật tương ứng.

Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt có thể nhận hình phạt ba đến mười năm tù

Để xác định được trách nhiệm hay mức hình phạt dành cho Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt trong sự việc có dấu hiệu của việc mua bán trẻ em xảy ra tại chùa Bồ Đề thì cần thiết phải có kết luận của Cơ quan điều tra về sự việc. Cụ thể: Hành vi của Nguyễn Thị Thanh Trang và Phạm Thị Nguyệt có dấu hiệu của tội phạm không? Nếu có thì phạm vào tội gì? Từ đó có mới có thể xác định được khung hình phạt mà Trang và Nguyệt có thể phải gánh chịu.

Dưới góc độ của luật sư, theo dõi sát những thông tin vụ việc mà các cơ quan truyền thông đăng tải trong thời gian qua, luật sư Tú cho rằng vụ việc xảy ra tại chùa Bồ Đề như báo chí đã đăng tải có dấu hiệu của “Tội Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” quy định tại Điều 120 BLHS. Theo quy định của Điều luật này thì:

1. Người nào mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Vì động cơ đê  hèn; d) Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em; đ) Để đưa ra nước ngoài;e) Để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo;g) Để sử dụng vào mục đích mại dâm;h) Tái phạm nguy hiểm; i) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Lê Thanh
Theo phununews
Phụ nữ và gia Fanpage

Có thể bạn quan tâm